Chỗ ở và giá thuê
Một chỗ ở tốn bao nhiêu, chủ nhà sẽ đòi những gì, khu nào phù hợp với nếp sống nào, và những tháng mà dọn vào thành phố này rẻ nhất.
Giá thuê theo loại chỗ ở
| Loại | Mỗi tháng (₱) | Mỗi tháng (~€) |
|---|---|---|
| Phòng trong nhà ở chung | 3.000–6.000 | 42–85 |
| Studio hoặc bedspace có điều hoà | 6.000–12.000 | 85–170 |
| Căn hộ một phòng ngủ | 8.000–18.000 | 113–254 |
| Nhà hai hoặc ba phòng ngủ | 15.000–40.000 | 212–565 |
Một phòng ở đáy khoảng giá đầu tiên nghĩa là một giường, một quạt, và nhà vệ sinh cùng bếp dùng chung với cả nhà.
Tiền tiện ích cộng thêm
| Hoá đơn | Mỗi tháng (₱) | Mỗi tháng (~€) |
|---|---|---|
| Điện | 1.500–6.000 | 21–85 |
| Nước | 200–600 | 3–8 |
| Internet | 1.500–3.000 | 21–42 |
Điều hoà là toàn bộ khác biệt trong hoá đơn điện. Không mục nào khác trong danh sách dao động nhiều như vậy.
Tiền cọc và hợp đồng thuê
- Hai tháng cọc cộng một tháng trả trước là mức thường gặp.
- Có thể thương lượng, nhất là với người nước ngoài.
- Hợp đồng 12 tháng có chi phí mỗi tháng thấp hơn hợp đồng 6 tháng.
Năm khu phố
- Gần Silliman
- Đi bộ được và đông sinh viên. Ồn hơn, và giá vọt lên vào tháng 6 khi năm học bắt đầu.
- Boulevard và Piapi
- Khu ven biển: nhà hàng và biển ngay trước cửa, nhưng hứng nhiều hơn khi bão vào.
- Daro và Bantayan
- Yên tĩnh hơn và đáng tiền hơn so với diện tích. Bạn sẽ cần một xe máy hoặc đi tricycle.
- Valencia, trên đồi
- Mát hơn, xanh hơn, cùng số tiền được nhiều diện tích hơn, cách thành phố 15–20 phút.
- Sibulan và Dauin
- Ven biển, sát sân bay và các điểm lặn. Rẻ hơn và yên hơn, và việc gì cũng phải tự lái xe đi.
Nên tìm khi nào
- Tháng 3 đến tháng 5 là khoảng tốt nhất: nhiều chỗ trống và chủ nhà chịu thương lượng.
- Tháng 6 là tệ nhất, vì năm học bắt đầu và giá vọt lên.
- Đường ngập khi mưa lớn và thường rút trong khoảng một giờ; khu ven biển hứng bão nặng nhất.